Anh Stephen Le cùng miềng đi thăm vùng nguyên liệu Mắm thuyền Nan
Anh Stephen Le cùng miềng đi thăm vùng nguyên liệu Mắm thuyền Nan

Should Vietnamese People Drink Milk?
By Stephen le
July 19, 2014
Is drinking milk healthy for Vietnamese people? These days, there is much conflicting information about this issue. To help Vietnamese people who are confused, I would like to discuss the history and health effects of milk drinking.
First, when did people start drinking milk and why?
Around 8000 years ago, at the same time that people in East Asia were learning how to plant rice and make rice alcohol, people in northern Europe developed the practice of drinking cow’s milk and eating cheese and other milk products. In East Asia, we started growing rice and drinking rice alcohol for the same reason that people in northern Europe started drinking milk and eating cheese: in both cases, the biggest mammals had disappeared due to over-hunting and climate change, so people were increasingly hungry.
Just as the first Asians who drank rice alcohol must have gotten very sick from overdoing it, the northern Europeans who first tried drinking milk must have suffered indigestion, because they lacked the genes to produce lactase, the enzyme for digesting lactose, the sugar in milk. All mammals lost lactase in adulthood. In some parts of the world, people eventually developed genetic mutations that allowed them and their children to better digest milk. (Also, if milk is drunk for a long enough time by an individual, adaptation in the colon takes place, which results in increasing fermentation of lactose and less hydrogen gases.) More than 80% of people in the British Isles and Scandinavia are lactase persistent (i.e., possess the enzyme lactase and are able to digest milk into adulthood). In northern India, about 63% of people are lactase persistent; in southern India, the frequency is between 10% and 20%. In East Africa and the Middle East, cow’s and camel’s milk have been drunk for thousands of years, so people there also have high rates of lactase persistence. In the eastern Mediterranean, the frequency of lactase persistence is around 15% (historically, people there ate goat cheese). In West Africa, East Asia, and the New World, few people were lactase persistent. Mongol herders rode their horses and consumed its milk, and in the Middle East, the Bedouin did the same with their camels; poor Bedouins could live almost entirely on camel’s milk alone, which illustrates the amazing nutritional potential of milk. Milk was also obtained from water buffalo in South and Southeast Asia as occasional drinks. Generally, cheese, yogurt, and butter last longer than milk and are easier to digest.
Overall, two out of every three people in the world do not have the ability to produce lactase. In other words, milk was not a significant part of the traditional diet for two-thirds of the world’s population. Now that cow’s milk is widely available in Vietnam, should we drink it?
My answer is no. I offer three reasons:
First, there is the problem of insulin-like growth factor (IGF-1), a protein that regulates growth. Drinking milk increases IGF-1 levels. Children who drink a lot of milk tend to grow taller. Height is valued in human societies, but being taller is also a risk factor for prostate, breast, colon, and lung cancers. Milk is also linked to acne: a series of large-scale studies (47,355 participants in one study alone) conducted by the Harvard School of Public Health found an association between dairy intake and acne in teenagers.
The second reason I believe Vietnamese should avoid drinking milk is due to the high levels of calcium in milk. Milk companies often try to persuade us that having more calcium is better for our bones. But how much calcium do we really need in our diet? The standard recommendation in America and Canada for calcium intake is that adults should consume 1000 mg of calcium per day; in Europe, the recommended intake is 800 mg, and in Japan it’s 500 mg. Paradoxically, it has been known for many years that in countries where people get more calcium in the diet, hip fractures are more common. Moreover, taking calcium supplements seems to increase the risk of hip fracture. Beyond a minimum threshold (around 400 mg of calcium per day), more calcium doesn’t seem to help our bones and may actually make matters worse. When I traveled in Papua New Guinea, there was no dairy intake at all among the villagers whom I stayed with, apart from mother’s milk during infancy, yet they were remarkably sturdy. Papua New Guineans have among the lowest rates of hip fracture in the world. The highest rates of hip fracture occur among the tall milk-loving northern Europeans. (Soy products, on the other hand, are associated with decreased hip fracture rates among women, perhaps due to the effects of phytoestrogens or the vitamin K found in fermented soy products.) The role of dietary calcium in increasing prostate cancer risk has also been demonstrated in several studies.
The third reason I think milk is unnecessary for Vietnamese is that we already have a delicious traditional diet that doesn’t require milk. In northern Europe and some parts of Africa, the Middle East, and South and Central Asia, milk has a long history and is an important and delicious part of their diets, as I learned from travelling around Sweden and Iceland. Asking someone from these countries to stop drinking milk is like asking a Vietnamese person to stop eating rice or using nuoc mam (fermented fish sauce). Conversely, in Vietnam, we have a delicious traditional diet that was based on vegetables, hand-milled rice, crabs, fish, fruits, treats of eggs from chickens or ducks, bits of pork or water buffalo meat, insects, and soybean and fish sauce, but we never used cow’s milk. There is no reason to stop eating the traditional Vietnamese diet, and there is no reason to start drinking cow’s milk.
Stephen Le was trained as a biological anthropologist. He received his Ph.D. degree from the University of California, Los Angeles (UCLA). For the past two years, he has been writing a book on the history of food, to be published by Picador USA and HarperCollins Canada in 2015. He was born in Canada to Vietnamese parents and has traveled to Vietnam several times. He has also lived and traveled in about 40 countries around the world, which gave him many opportunities to witness and discuss the use of milk in different societies.
Người Việt có nên uống sữa?
Uống sữa có tốt cho người Việt không? Ngày nay, có rất nhiều thông tin gây tranh cãi về vấn đề này. Để giúp hiểu rõ hơn, tôi muốn đề cập về lịch sử và những ảnh hưởng đến sức khỏe của sữa.
Trước tiên, con người uống sữa từ khi nào và vì sao?
Khoảng 8000 năm trước đây, cùng thời gian với người dân Đông Á học cách trồng lúa và làm rượu gạo, những người Bắc Âu đã uống sữa bò và ăn phô mai cùng các sản phẩm từ sữa.
Ở Đông Á, chúng ta trồng lúa nước, uống rượu gạo bởi cùng lý do với người Bắc Âu uống sữa, ăn phô mai: Tại cả hai nơi, những động vật có vú lớn nhất đã biến mất vì săn bắn quá mức và thay đổi khí hậu, vì vậy tình trạng đói khổ hoành hành.
Khi những người châu Á đầu tiên uống rượu bị say vì dùng quá nhiều thì những người Bắc Âu đầu tiên thử uống sữa cũng bị vấn đề về tiêu hóa bởi họ thiếu gen sản xuất ra lactase, một loại enzyme giúp tiêu hóa đường lactose có trong sữa.
Trước đây, tất cả các loài động vật có vú đều mất lactase trong thời kỳ trưởng thành, nhưng ở một vài nơi trên thế giới, con người cuối cùng đã biến đổi về gen để cho phép họ và con cái tiêu hóa sữa tốt hơn.
(Cũng như vậy, nếu sữa được ai đó uống đủ một thời gian dài thì sẽ xuất hiện sự thích ứng ở ruột trong việc tiêu hóa sữa, sẽ làm tăng men tiêu hóa lactose và sản sinh ra ít khí hydro hơn).
Hơn 80% dân số ở quần đảo Anh và Scandinavia khi sinh ra đã có enzyme lactase và có thể tiêu hóa được sữa vào tuổi tuổi trưởng thành). Ở Bắc Ấn Độ, khoảng 63% dân số có lactase, ở phía Nam Ấn Độ, tần suất là từ 10 đến 20%. Ở Đông Phi và Trung Đông, sữa bò và lạc đà đã được uống từ hàng ngàn năm, vì thế, tỉ lệ dân số có enzyme lactase là cao.
Ở phía đông Địa Trung Hải, tần suất có lactase là khoảng 15% (trong lịch sử, người ta có ăn pho mát dê). Ở Tây Phi, Đông Á và Tân Thế Giới, rất ít người có lactase vĩnh viễn. Người Mông Cổ cưỡi ngựa và dùng sữa của nó, trong khi đó ở Trung Đông, người Bedouin uống sữa lạc đà, thậm chí người nghèo Bedouin sống lệ thuộc vào sữa là chủ yếu.
Sữa trâu được uống thường xuyên ở Nam và Đông Nam Á. Thông thường, phô mai, sữa chua và bơ để được lâu hơn sữa và dễ dàng tiêu hóa hơn.
Nhìn chung, cứ hai trong số ba người trên thế giới không có khả năng sản xuất ra lactase. Nói cách khác, sữa không phải là một phần quan trọng của chế độ ăn uống truyền thống cho hai phần ba dân số thế giới.
Bây giờ sữa bò phổ biến rộng rãi tại Việt Nam, chúng ta có nên uống sữa?
Câu trả lời của tôi là không, vì ba lý do sau:
Thứ nhất, có một vấn đề về các yếu tố sinh trưởng tương tự insulin (viết tắt là IGF-1), một loại protein điều chỉnh sự tăng trưởng. Uống sữa làm tăng IGF-1. Trẻ em uống nhiều sữa có xu hướng tăng chiều cao hơn.
Chiều cao có giá trị trong xã hội loài người, tuy nhiên uống sữa để tăng chiều cao cũng chứa đựng những nguy cơ bệnh tật như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, đại tràng và phổi.
Sữa cũng liên quan tới mụn trứng cá: Một loạt nghiên cứu trên diện rộng (47.355 người tham gia mỗi nghiên cứu) được tiến hành bởi Đại học Harvard cho thấy sự liên quan giữa lượng sữa tiêu thụ và mụn trứng cá ở tuổi vị thành niên.
Thứ hai, người Việt không nên uống sữa vì lượng canxi trong sữa cao. Các công ty sữa thường thuyết phục chúng ta rằng có nhiều canxi sẽ tốt cho xương. Tuy nhiên, hàng ngày chúng ta thực sự cần bao nhiêu lượng canxi trong mỗi bữa ăn?
Tiêu chuẩn ở Mỹ và Canada về canxi cho người lớn nên tiêu thụ là 1.000 mg canxi mỗi ngày; ở châu Âu, mức tiêu thụ là 800 mg, còn tại Nhật Bản là 500 mg.
Thật là nghịch lý, từ nhiều năm nay người ta đã thấy rằng, tại các quốc gia nơi người dân tiêu thụ nhiều canxi trong khẩu phần ăn, bệnh gãy xương hông trở nên phổ biến.
Bổ sung nhiều canxi dường như tăng nguy cơ gãy xương hông. Vượt qua ngưỡng tiêu thụ 400 mg canxi mỗi ngà dường như chẳng giúp gì cho xương của chúng ta mà còn làm vấn đề tồi tệ hơn. Trong bữa ăn truyền thống Việt Nam, mọi người đã có đủ canxi từ rau có lá xanh đậm.
Khi tôi đi du lịch ở Papua New Guinea, người dân ở đây không uống sữa hàng ngày ngoài sữa mẹ trong giai đoạn phôi thai, nhưng họ rất chắc khỏe. Papua Guinea là một trong những nước có tỷ lệ gãy xương hông thấp nhất trên thế giới.
Tỉ lệ gãy xương hông cao nhất xảy ra ở những người Bắc Âu cao lớn, ưa thích uống sữa. (Sữa đậu nành, trái lại, lại làm giảm tỉ lệ gãy xương hông ở phụ nữ, có lẽ do ảnh hưởng của kích thích tố nữ hoặc vitamin K tìm thấy trong các sản phẩm đậu nành lên men). Dùng canxi hàng ngày cũng làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt cũng được chứng minh trong nhiều nghiên cứu.
The third reason I think milk is unnecessary for Vietnamese is that we already have a delicious traditional diet that doesn’t require milk. In northern Europe and some parts of Africa, the Middle East, and South and Central Asia, milk has a long history and is an important and delicious part of their diets, as I learned from travelling around Sweden and Iceland.
Lý do thứ ba khiến tôi nghĩ sữa không cần thiết với người Việt là chúng ta đã có lối ăn truyền thống không cần tới sữa. Ở Bắc Âu và một vài nơi của châu Phi, Trung Đông, Nam và Trung Á, sữa có một lịch sử lâu đời và là một phần quan trọng và ngon lành trong bữa ăn của họ, như tôi được học khi tôi đi du lịch qua Thụy  Điển và Iceland.
Nói họ dừng uống sữa có khác nào bảo người Việt dừng ăn cơm hay nước mắm. Còn ở Việt Nam, chúng ta có một lối ăn ngon lành dựa trên rau, gạo, cua, cá, trái cây, trứng gà vịt, thịt heo, bò, đậu nành, nước mắm chứ trước đây chúng ta không dùng tới sữa bò. Không có lý do gì khiến chúng ta phải dừng những thức ăn truyền thống cũng như không có lý do gì phải bắt đầu việc uống sữa.
Stephen le
Tiểu sử tác giả:
Stephen Le được đào tạo về nhân chủng học sinh học. Anh lấy bằng tiến sĩ của Đại học California, Los Angeles (UCLA) và hiện là giáo sư thỉnh giảng của Khoa Sinh học, ĐH Ottawa. Trong hai năm nay, anh đã viết một cuốn sách về lịch sử thức ăn, chuẩn bị được NXB Picador USA and HarperCollins Canada xuất bản trong năm 2015. Anh là người Việt, sinh ra ở Canada và đã trở về Việt Nam nhiều lần. Anh cũng sống và du lịch tới 40 nước trên thế giới với cơ hội chứng kiến và thảo luận về văn hóa ăn uống tại nhiều quốc gia.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *